Bảo hiểm được trừ khi tính thuế tncn là một trong những quy định quan trọng giúp người lao động giảm gánh nặng tài chính khi kê khai thuế thu nhập cá nhân. Việc hiểu rõ cách thức trừ các khoản bảo hiểm này giúp tối ưu hóa nghĩa vụ thuế và đảm bảo tuân thủ pháp luật một cách hiệu quả. Trong bối cảnh kinh tế biến động, nắm bắt thông tin này trở nên cần thiết hơn bao giờ hết để tránh sai sót trong quyết toán thuế. Cùng Công ty kế toán ACC tìm hiểu chi tiết để áp dụng đúng quy định.

1. Bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN như thế nào?
Theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân, các khoản bảo hiểm bắt buộc mà người lao động đóng được trừ trực tiếp vào thu nhập chịu thuế trước khi xác định thu nhập tính thuế TNCN. Việc khấu trừ này giúp làm giảm số thuế thu nhập cá nhân phải nộp và không bị giới hạn mức trần, với điều kiện các khoản đóng bảo hiểm là hợp pháp và có đầy đủ chứng từ chứng minh.
Cụ thể, khi tính thuế TNCN từ tiền lương, tiền công, cơ quan thuế xác định thu nhập chịu thuế bằng tổng thu nhập nhận được trong kỳ, sau đó trừ đi các khoản giảm trừ, trong đó bao gồm các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và một số loại bảo hiểm bắt buộc khác theo quy định pháp luật. Phần thu nhập còn lại sau khi trừ bảo hiểm và các khoản giảm trừ khác (như giảm trừ gia cảnh) sẽ là căn cứ để áp dụng biểu thuế lũy tiến từng phần.
Ví dụ, người lao động có thu nhập 20 triệu đồng/tháng và đóng bảo hiểm bắt buộc với tỷ lệ 10,5% (tương đương 2,1 triệu đồng) thì thu nhập chịu thuế sẽ giảm xuống còn 17,9 triệu đồng trước khi áp dụng các khoản giảm trừ khác. Nhờ đó, số thuế TNCN phải nộp cũng giảm tương ứng.
Tuy nhiên, chỉ các khoản bảo hiểm thuộc diện bắt buộc theo quy định của pháp luật mới được trừ khi tính thuế TNCN. Các loại bảo hiểm tự nguyện hoặc bảo hiểm thương mại thông thường không được xem là khoản giảm trừ, trừ trường hợp pháp luật có quy định riêng. Người nộp thuế cần lưu giữ đầy đủ chứng từ đóng bảo hiểm để phục vụ việc kê khai và quyết toán thuế khi cơ quan thuế yêu cầu.
2. Các loại bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN
Theo quy định về các khoản giảm trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân, pháp luật chỉ cho phép trừ đối với các khoản bảo hiểm mang tính chất bắt buộc. Cụ thể, khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 15 Thông tư 92/2015/TT-BTC) quy định các khoản đóng bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN bao gồm: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với một số ngành, nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc.
Trước hết, bảo hiểm xã hội bắt buộc là khoản bảo hiểm quan trọng nhất được trừ khi tính thuế TNCN. Theo Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành, người lao động có trách nhiệm trích một phần tiền lương để đóng bảo hiểm xã hội nhằm bảo đảm các quyền lợi về hưu trí, ốm đau, thai sản, tai nạn lao động. Toàn bộ phần bảo hiểm xã hội do người lao động đóng được trừ khỏi thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập tính thuế TNCN.
Bên cạnh đó, bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp cũng thuộc nhóm các khoản được trừ. Việc tham gia hai loại bảo hiểm này là nghĩa vụ bắt buộc theo Luật Bảo hiểm y tế và Luật Việc làm, nhằm bảo đảm quyền lợi khám chữa bệnh và hỗ trợ người lao động khi mất việc làm. Do đó, phần tiền bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp do người lao động đóng được pháp luật công nhận là khoản giảm trừ hợp pháp khi tính thuế TNCN.
Ngoài các loại bảo hiểm phổ biến nêu trên, pháp luật còn cho phép trừ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc đối với một số ngành nghề đặc thù theo quy định chuyên ngành, như lĩnh vực y tế, xây dựng, tư vấn pháp luật. Trong các trường hợp này, khoản bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp được xem là nghĩa vụ bắt buộc gắn liền với hoạt động nghề nghiệp, nên được trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNCN.
Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam hoặc người Việt Nam làm việc ở nước ngoài, nếu đã tham gia các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của quốc gia nơi làm việc có tính chất tương tự pháp luật Việt Nam, thì theo điểm c khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, các khoản bảo hiểm này cũng được trừ khi tính thuế TNCN, với điều kiện có đầy đủ chứng từ hợp lệ.
Như vậy, chỉ các khoản bảo hiểm bắt buộc theo quy định của pháp luật mới được trừ khi tính thuế TNCN. Các loại bảo hiểm tự nguyện hoặc bảo hiểm thương mại thông thường không thuộc diện được trừ, trừ trường hợp pháp luật có quy định riêng. Việc xác định đúng loại bảo hiểm được trừ giúp người nộp thuế bảo đảm quyền lợi về thuế, đồng thời tránh rủi ro bị loại khoản giảm trừ khi quyết toán thuế.
>> Đọc thêm: Các trường hợp được miễn thuế thu nhập cá nhân
Xem thêm: Mẫu đơn xin giảm thuế GTGT mới nhất
3. Điều kiện để bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN
Để các khoản bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân, cá nhân nộp thuế phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật thuế. Trước hết, theo khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung bởi Điều 15 Thông tư 92/2015/TT-BTC), các khoản bảo hiểm được trừ phải là bảo hiểm thuộc diện bắt buộc, bao gồm bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc đối với một số ngành, nghề theo quy định. Do đó, các loại bảo hiểm tự nguyện hoặc bảo hiểm thương mại thông thường không đủ điều kiện để được trừ khi tính thuế TNCN, trừ trường hợp pháp luật có quy định riêng.
Bên cạnh điều kiện về loại bảo hiểm, các khoản bảo hiểm được trừ phải là khoản đã thực tế phát sinh trong kỳ tính thuế. Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, khoản đóng bảo hiểm của năm nào thì chỉ được trừ vào thu nhập chịu thuế của năm đó. Cá nhân không được chuyển khoản đóng bảo hiểm sang kỳ tính thuế khác nhằm mục đích giảm thuế, bởi việc này có thể bị cơ quan thuế loại trừ khi quyết toán.
Ngoài ra, chứng từ chứng minh khoản bảo hiểm là điều kiện bắt buộc để được trừ khi tính thuế TNCN. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, cá nhân phải có bản chụp chứng từ thu tiền của tổ chức bảo hiểm hoặc xác nhận của tổ chức trả thu nhập về số tiền bảo hiểm đã khấu trừ, đã nộp (trường hợp doanh nghiệp nộp thay). Trường hợp không có chứng từ hợp lệ, cơ quan thuế có quyền không chấp nhận khoản bảo hiểm được trừ khi xác định thu nhập tính thuế.
Đối với người nước ngoài là cá nhân cư trú tại Việt Nam hoặc người Việt Nam là cá nhân cư trú nhưng làm việc ở nước ngoài, khoản bảo hiểm được trừ phải là các khoản bảo hiểm bắt buộc đã tham gia theo quy định của quốc gia nơi làm việc và có tính chất tương tự các loại bảo hiểm bắt buộc theo pháp luật Việt Nam. Việc giảm trừ được thực hiện trong năm nếu có chứng từ hợp lệ; trường hợp chưa có chứng từ thì được giảm trừ một lần khi thực hiện quyết toán thuế, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Như vậy, để bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN, cá nhân phải đồng thời đáp ứng các điều kiện về tính bắt buộc của bảo hiểm, thời điểm phát sinh khoản đóng và chứng từ chứng minh hợp lệ. Việc tuân thủ đầy đủ các điều kiện này không chỉ bảo đảm quyền lợi giảm trừ thuế cho người nộp thuế mà còn giúp hạn chế rủi ro bị truy thu hoặc xử phạt trong quá trình kiểm tra, quyết toán thuế.
4. Cách tính toán bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN
Việc tính toán khoản bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân được thực hiện trên cơ sở xác định thu nhập tính thuế theo quy định của pháp luật thuế. Theo khoản 1 Điều 7 và Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC, thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công được xác định bằng tổng thu nhập chịu thuế nhận được trong kỳ, sau khi trừ đi các khoản giảm trừ, bao gồm các khoản đóng bảo hiểm bắt buộc và các khoản giảm trừ khác theo quy định.
Cụ thể, khoản bảo hiểm được trừ là phần tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp bắt buộc (nếu có) do người lao động thực tế đóng trong kỳ tính thuế. Các khoản này được trừ toàn bộ, không bị khống chế mức tối đa, với điều kiện việc đóng bảo hiểm được thực hiện đúng quy định và có đầy đủ chứng từ hợp lệ theo khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Về tỷ lệ đóng bảo hiểm, căn cứ khoản 1 Điều 57 Luật Việc làm 2013, khoản 1 Điều 7 Nghị định 146/2018/NĐ-CP và Quyết định 595/QĐ-BHXH năm 2017, người lao động Việt Nam hiện nay đóng bảo hiểm bắt buộc với mức:
- Bảo hiểm xã hội: 8%;
- Bảo hiểm y tế: 1,5%;
- Bảo hiểm thất nghiệp: 1%.
Như vậy, tổng mức đóng bảo hiểm bắt buộc của người lao động là 10,5% tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm.
Trên cơ sở đó, cách tính khoản bảo hiểm được trừ được xác định theo công thức:
Tiền bảo hiểm được trừ = 10,5% × Tiền lương tháng đóng BHXH bắt buộc
Sau khi xác định được khoản bảo hiểm được trừ, thu nhập tính thuế TNCN được xác định theo công thức:
Thu nhập tính thuế = Tổng thu nhập chịu thuế – Các khoản đóng bảo hiểm – Các khoản giảm trừ khác (giảm trừ gia cảnh, từ thiện, nhân đạo…)
Ví dụ: Người lao động có mức lương tháng 20 triệu đồng, tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm là 20 triệu đồng. Khoản bảo hiểm bắt buộc người lao động phải đóng là 10,5%, tương đương 2,1 triệu đồng. Khi đó, thu nhập chịu thuế sau khi trừ bảo hiểm còn 17,9 triệu đồng, trước khi tiếp tục áp dụng các khoản giảm trừ gia cảnh theo quy định.
Trong trường hợp người lao động có nhiều nguồn thu nhập hoặc làm việc tại nhiều nơi, cá nhân phải tổng hợp đầy đủ các khoản đóng bảo hiểm trong kỳ tính thuế, bảo đảm việc trừ bảo hiểm không trùng lặp. Trường hợp doanh nghiệp đã thực hiện khấu trừ thuế tại nguồn, cá nhân vẫn có trách nhiệm kiểm tra lại số liệu khi quyết toán thuế để bảo đảm việc trừ bảo hiểm được áp dụng chính xác.
Như vậy, việc tính toán đúng khoản bảo hiểm được trừ khi tính thuế TNCN giúp cá nhân xác định chính xác nghĩa vụ thuế, hạn chế sai sót trong kê khai và tránh rủi ro bị truy thu hoặc xử phạt hành chính.
5. Câu hỏi thường gặp
Tiền đóng BHXH có được trừ khi tính thuế TNCN không?
Có. Theo khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC (được sửa đổi bởi Thông tư 92/2015/TT-BTC), toàn bộ khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc do người lao động đóng được trừ vào thu nhập chịu thuế khi tính thuế TNCN, không giới hạn mức trần, nếu có chứng từ hợp lệ.
Bảo hiểm y tế tự nguyện có được trừ khi tính thuế TNCN không?
Không. Chỉ bảo hiểm y tế bắt buộc mới được trừ khi tính thuế TNCN. Bảo hiểm y tế tự nguyện không thuộc khoản giảm trừ theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Thông tư 111/2013/TT-BTC.
Bảo hiểm thương mại, bảo hiểm nhân thọ có được trừ không?
Không. Các loại bảo hiểm thương mại, bảo hiểm nhân thọ không thuộc diện bảo hiểm bắt buộc nên không được trừ khi tính thuế TNCN, trừ trường hợp là bảo hiểm hưu trí tự nguyện trong giới hạn pháp luật cho phép.
Không có chứng từ đóng bảo hiểm thì có được trừ khi tính thuế TNCN không?
Không. Cá nhân phải có chứng từ thu tiền của tổ chức bảo hiểm hoặc xác nhận của đơn vị trả thu nhập thì khoản bảo hiểm mới được chấp nhận giảm trừ khi quyết toán thuế.
Bảo hiểm được trừ khi tính thuế tncn là quy định thiết thực giúp người lao động giảm thiểu nghĩa vụ thuế một cách hợp pháp và hiệu quả. Việc nắm bắt đầy đủ các loại bảo hiểm, điều kiện và cách tính toán sẽ mang lại lợi ích tài chính lâu dài, tránh các rủi ro pháp lý không đáng có. Để được hỗ trợ chuyên sâu về kê khai và quyết toán thuế, hãy liên hệ Công ty kế toán ACC ngay hôm nay để nhận tư vấn miễn phí và dịch vụ chuyên nghiệp. Đừng bỏ lỡ cơ hội tối ưu hóa tài chính của bạn!
Để lại một bình luận