Dựa trên thông tin Anh/Chị cung cấp, Công ty dịch vụ kế toán ACC xin phép phân tích và đưa ra hướng dẫn cụ thể như sau.
Bản chất của khoản tiền hỗ trợ marketing
Khoản tiền hỗ trợ marketing nhận từ nhà cung cấp, dù không phải chiết khấu trực tiếp trên hóa đơn mà chuyển khoản riêng cuối tháng, thường được xem là hình thức chiết khấu thương mại gián tiếp hoặc hỗ trợ quảng cáo nhằm thúc đẩy bán hàng. Theo quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) 2024, các khoản hỗ trợ này không phải là hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ độc lập mà là phần điều chỉnh giá trị giao dịch giữa các bên. Do đó, khoản tiền này được coi là thu nhập của bên nhận (công ty Anh/Chị) nhưng không tạo ra nghĩa vụ phát sinh hóa đơn mới từ phía bên nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận rõ ràng coi đây là dịch vụ marketing riêng lẻ.
Nghĩa vụ xuất hóa đơn
Bên nhận khoản hỗ trợ (công ty Anh/Chị) không bắt buộc phải xuất hóa đơn GTGT cho khoản tiền này, vì đây không phải là hoạt động bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ ra bên ngoài. Theo Khoản 3 Điều 10 Nghị định 181/2025/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật Thuế GTGT 2024), chiết khấu thương mại hoặc hỗ trợ marketing dưới dạng chuyển khoản riêng được xử lý bằng cách điều chỉnh giảm giá trị hóa đơn gốc của giao dịch mua hàng, mà không yêu cầu xuất hóa đơn bổ sung từ bên nhận. Nếu hợp đồng giữa hai bên quy định rõ khoản hỗ trợ là chi phí quảng cáo do bên nhận thực hiện thay, thì bên cung cấp mới cần xuất hóa đơn GTGT cho phần hỗ trợ đó (nếu áp dụng thuế suất 10%). Công ty Anh/Chị chỉ cần ghi nhận khoản tiền này vào sổ sách kế toán như thu nhập khác và lưu trữ chứng từ chuyển khoản để làm cơ sở kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN).
Nghĩa vụ tính thuế GTGT
Khoản tiền hỗ trợ marketing không phải chịu thuế GTGT từ phía bên nhận, vì nó không thuộc đối tượng chịu thuế theo Điều 5 Luật Thuế GTGT 2024 (các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ). Thay vào đó, phần chiết khấu hoặc hỗ trợ này được khấu trừ trực tiếp vào giá trị hàng hóa mua vào, giúp giảm cơ sở tính thuế GTGT đầu vào của giao dịch gốc. Theo Khoản 2 Điều 7 Nghị định 181/2025/NĐ-CP, nếu khoản hỗ trợ vượt quá 10% giá trị hợp đồng mua hàng, phần vượt có thể bị loại trừ khỏi chi phí khấu trừ thuế TNDN, nhưng không ảnh hưởng đến thuế GTGT. Công ty Anh/Chị cần kê khai khoản này tại Phụ lục 03-1A/GTGT của Tờ khai thuế GTGT hàng quý hoặc tháng, đồng thời lưu ý kiểm tra hợp đồng để tránh rủi ro bị cơ quan thuế coi là thu nhập chịu thuế khác.
Việc tuân thủ đúng quy định về xử lý khoản hỗ trợ marketing giúp doanh nghiệp tránh phạt hành chính theo Nghị định 125/2020/NĐ-CP, đồng thời tối ưu hóa chi phí thuế và đảm bảo minh bạch trong báo cáo tài chính. Nếu cần hỗ trợ soạn thảo, nộp hồ sơ hoặc theo dõi tiến trình, hãy liên hệ Công ty dịch vụ kế toán ACC.
Để lại một bình luận