Dựa trên thông tin Anh/Chị cung cấp, Công ty dịch vụ kế toán ACC xin phép phân tích và đưa ra hướng dẫn cụ thể như sau.
Quyền sở hữu tài sản theo quy định pháp luật
Theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, sản xuất, kinh doanh và các thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, nếu sổ đỏ đứng tên riêng một bên thì tài sản được coi là tài sản riêng của người đó, trừ khi có thỏa thuận khác hoặc chứng cứ chứng minh là tài sản chung.
Trong trường hợp này, căn nhà đứng tên Anh/Chị trên sổ đỏ nên được xác định là tài sản riêng, không thuộc hộ kinh doanh của vợ (hộ kinh doanh nhóm 2 theo phân loại tại Thông tư 18/2026/TT-BTC). Do đó, quyền cho thuê và thu nhập từ việc cho thuê thuộc về Anh/Chị với tư cách cá nhân, không phải hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh vợ.
Trách nhiệm kê khai thuế thu nhập từ cho thuê tài sản
Theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007 (sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2014 và 2019), thu nhập từ cho thuê tài sản (bao gồm nhà ở) là đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân (TNCN), với mức thuế suất 10% trên doanh thu nếu doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống, hoặc tính theo biểu thuế lũy tiến nếu vượt mức đó.
Người phải kê khai và nộp thuế là cá nhân trực tiếp có thu nhập từ hoạt động cho thuê, tức là Anh/Chị – chủ sở hữu tài sản đứng tên trên sổ đỏ. Hộ kinh doanh của vợ không liên quan đến khoản thu nhập này, vì đây không phải thu nhập từ hoạt động kinh doanh của hộ
Anh/Chị cần kê khai thuế TNCN hàng quý hoặc tạm nộp theo tháng tại Chi cục Thuế quản lý, kèm theo hóa đơn, hợp đồng cho thuê làm chứng từ. Nếu không kê khai đúng hạn, có thể bị phạt hành chính
Việc tuân thủ kê khai thuế giúp tránh rủi ro pháp lý, đảm bảo quyền lợi sở hữu tài sản và tối ưu hóa chi phí thuế hợp pháp. Đồng thời, ghi nhận rõ ràng thu nhập cá nhân hỗ trợ quản lý tài chính gia đình hiệu quả. Nếu cần hỗ trợ soạn thảo, nộp hồ sơ hoặc theo dõi tiến trình, hãy liên hệ Công ty dịch vụ kế toán ACC.
Để lại một bình luận